Chào mừng bạn đến với Trường THCS Nguyễn Tri Phương
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vật Lý. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vật Lý. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 3 tháng 10, 2012

MỜI XEM BLOG CỦA TỔ LÝ HÓA SINH

Thứ Năm, 29 tháng 12, 2011

Ngôi sao tự phát sáng?

Sao là tất cả các thiên thể có khả năng
tự phát ra ánh sáng của mình.

Theo ông Đặng Vũ Tuấn Sơn, CLB Thiên văn Trẻ Việt Nam: Sao (star) là tất cả các thiên thể có khả năng tự phát ra ánh sáng của mình. Tất cả chúng đều là những khối cầu khí khổng lồ có khối lượng lớn hơn Trái Đất hàng chục đến hàng trăm ngàn lần hay thậm chí là lớn hơn nhiều nữa và chỉ có nhờ một khối lượng lớn như thế mới giúp chúng tự tạo ra ánh sáng của bản thân mình.
 Một thiên thể để có thể tự phát ra ánh sáng của mình cần có khối lượng tối thiểu là lớn gấp 80 lần khối lượng của Mộc tinh Jupiter, tức là khoảng 8% khối lượng của Mặt Trời, các sao có khối lượng nhỏ hơn giới hạn này một chút được coi là giai đoạn trung gian giữa sao và hành tinh, chúng là các sao lùn nâu hoặc lùn đen.
 Các ngôi sao thường có thành phần trung bình là 70%hydro, 28%heli, 1,5 % cacbon, nito, oxi... và khoảng 0,5% sắt và các kim loại.
PV (ghi)

Thứ Bảy, 1 tháng 10, 2011

Albert Einstein: Người thay đổi thế giới


Không phải chính trị hay kinh tế làm thay đổi thế giới, mà là công nghệ. Bản thân công nghệ lại bắt nguồn từ sự tiến bộ của khoa học cơ bản. Albert Einstein (1879-1955) là một minh chứng cho nhận định ấy.
Stephen Hawking, tác giả cuốn “Lược sử thời gian", đã bán hết 9 triệu bản, nhà vật lí nổi tiếng nhất thời nay, đã viết: “Hơn 100 năm qua thế giới đã thay đổi nhiều hơn bất kì thế kỉ nào trong lịch sử. Lí do không phải là chính trị hay kinh tế mà là công nghệ và công nghệ thì bắt nguồn từ các tiến bộ của khoa học cơ bản. Rõ ràng là không có nhà khoa học nào đại diện cho các tiến bộ ấy tốt hơn Albert Einstein!”.
Người lật lại nhân vật lịch sử Isac Newton
Albert Einstein đã được cộng đồng các nhà khoa học thế giới bầu chọn làm biểu tượng của thế kỷ XX: “Nhân vật của thế kỉ”- thế kỷ của khoa học và công nghệ (Tạp chí Time ra ngày 31/12/1999). Ông đã làm thay đổi cả thế giới về công nghệ bởi những phát minh khoa học kì diệu.
a) Phát minh thứ nhất: “Hiệu ứng quang điện”: hiện tượng electron bị bứt khỏi nguyên tử, thành electron tự do, tạo nên dòng điện khi kim loại bị chiếu sáng. Phát minh này tạo ra nhiều phát minh công nghệ quan trọng mà con người đang sử dụng rộng rãi như tế bào quang điện, màn ảnh ti vi, bóng đèn điện tử, transisto, v. v...
b) Phát minh thứ hai: “Sự chuyển động vi mô của phân tử chất lỏng”.
c) Phát minh thứ ba: “Thuyết tương đối hẹp”. Nó làm thay đổi cả lí thuyết về không gian và thời gian.
“Thuyết tương đối hẹp” đã dẫn đến những hiệu quả đáng kinh ngạc. Theo đó cả không gian, thời gian đều không còn là những khái niệm có ý nghĩa thống nhất vạn năng nữa, chúng phụ thuộc vào trạng thái của người quan sát. Khối lượng cũng không còn mang ý nghĩa thống nhất vạn năng và bất biến, khối lượng có thể biến đổi thành năng lượng và ngược lại.
Trong cơ học cổ điển của Galilée, đầu thế kỉ XVII, và vật lí học cổ điển của Iesac Newton, đầu thế kỉ XVIII: Không gian và thời gian là bất di bất dịch, là tuyệt đối. Theo Newton: Khối lượng và năng lượng tồn tại như hai khái niệm khác nhau. Đó là một quan niệm thống trị suốt mấy trăm năm. Theo Newton, năng lượng của một quả đại đại bác đang nằm yên sẽ bằng không. Thuyết tương đối của Einstein thì hàm lượng năng lượng của quả đạn này rất lớn.
Thuyết Tương đối hẹp là áp dụng cho các tình huống đặc biệt, có tốc độ tương đương với tốc độ ánh sáng. Chỉ có ở những quá trình biến đổi hạt nhân nguyên tử, diễn ra với sự tham gia của lực tương tác mạnh, tốc độ của các hạt cơ bản và các hạt nhân nguyên tử.
Chẳng hạn, một cái thước khi nó chuyển động càng nhanh thì càng co ngắn lại; vật thể chuyển động càng nhanh thì càng nặng thêm. Con tàu vũ trụ chuyển động càng nhanh thì thời gian càng chậm lại.
Einstein đã tính toán và kết luận: “Tốc độ ánh sáng là không đổi, gần bằng 3000 00km/giây, bất kể ta chuyển động về phía nguồn sáng hay ngược lại.
Điều này mãi ba năm sau ngày 29/5/1919 có nhật thực toàn phần nhìn được ở Tây Phi. Đoàn khoa học của Hội Hoàng gia Anh đem máy ra đo đạc, quan sát tỉ mỉ, thấy: Tia sáng của các vì sao khi đi ngang qua mặt trời, bị sức hút của mặt trời làm lêch đi 1,79 giây cung. Gần đúng với số liệu tính toán của Albert Einstein là 1,75 giây. Trường hấp dẫn đã bẻ cong không gian và thời gian đã giải thích được sự hình thành các “lỗ đen” trong vũ trụ.
Bởi lí thuyết tương đối Albert Einstein suy ra một hệ thức: E=mc2 , trong đó E là năng lượng, m là khối lượng, và c là tốc độ ánh sáng bằng 300 000 km/s. Một hệ thức làm thay đổi cả thế giới về công nghệ, nó đã chi phối việc phát triển của ngành năng lượng nguyên tử và nhiều ngành khoa học khác từ hệ thức tương đương giữa năng lượng E và khối lượng m.
Mối quan hệ năng lượng – khối lượng suy ra từ công thức E=mc2 của các nhà vật lí nguyên tử đã tính được sức công phá của bom nguyên tử hay bom khinh khí và năng lượng phát ra từ lò phản ứng nguyên tử, công suất của các nhà máy điện nguyên tử. Nó là một hệ thức xuyên qua suốt cả tòa nhà vật lí hiện đại, ngược về tận điểm ban đầu, vụ nổ Big Bang cách ta 20 tỉ năm, hoặc giải thích những quá trình tổng hợp hạt nhân trong các vì sao. Và năng lượng mặt trời giúp trái đất có sự sống là năng lượng được sản sinh nhờ quá trình tương tác mạnh.
Einstein luôn bối rối về sự nổi tiếng của mình, ông thường tự coi mình là một người “độc hành”, tin rằng ý thức trách nhiệm xã hội đầy nhiệt huyết của mình luôn xung đột với tinh thần độc lập của mình trong tư cách một nhà khoa học.
Bộ não của Albert Einstein, có gì đặc biệt?
Gần đây các nhà bác học Canada đã thông báo rằng: “thùy não dưới (Trung tâm tư duy toán học và hình tượng không gian) của Einstein lớn hơn nhiều so với bình thường".
Albert Einstein sinh ngày 14/3/1879, tại thành phố Ulm, miền Nam nước Đức. Phụ thân ông, một kĩ sư và là chủ một doanh nghiệp nhỏ ngành kĩ nghệ điện hóa.
Einstein luôn bối rối về sự nổi tiếng của mình, ông thường tự coi mình là một người “độc hành”, tin rằng ý thức trách nhiệm xã hội đầy nhiệt huyết của mình luôn xung đột với tinh thần độc lập của mình trong tư cách một nhà khoa học.
Năm 12 tuổi, ông đã viết sách về toán học. Ông chỉ thích ở trong phòng một mình với bừa bộn sách vở. 23 tuổi, ông tốt nghiệp đại học tại trường đại học Bách khoa Zurich, Thụy Sĩ. Và vào làm việc tại văn phòng cấp bằng sáng chế, phát minh ở Berne của Thụy Sĩ. Ngoài thời gian làm việc ông giành cả thời gian còn lại hàng ngày cho vật lí học. Chỉ ba năm sau khi tốt nghiệp đại học, ông đã công bố ba phát minh vĩ đại. Năm 1921, Einstein được nhận giải thưởng Nobel về vật lí.
Khi chủ nghĩa quốc xã bao trùm nước Đức, Einstein là người thẳng thắn bảo vệ quyền có một nhà nước Ixraen. Và để tỏ lòng biết ơn Ông, người Do Thái đề nghị Ông làm Tổng thống, ông đã từ chối. Năm 1930, Albert Einstein đã rời khỏi châu Âu sang định cư tại Hoa Kì. Ông là giáo sư của trường đại học Priceton.
Albert Einstein rất ghét thói đời nịnh nọt. Nhiều phóng viên tiếp cận xin ý kiến ông cả những vấn đề pháp luật như về án tử hình; về tình yêu. Einstein vui vẻ trả lời một cách hài hước: “Lực hấp dẫn không phải là nguyên nhân khiến mọi người yêu nhau”.
Đã có lần một phóng viên phỏng vấn ông rằng: “Nhờ đâu mà ông tìm ra thuyết tương đối?", Einstein nói: "Mọi người có cái may mắn hơn tôi là hiểu rõ không gian và thời gian ngay từ khi còn nhỏ. Tôi thì do trí thông minh kém phát triển, nên đến lúc lớn rồi vẫn chưa hiểu thế nào là không gian và thời gian. Vì vậy tôi phải cố công tìm hiểu nó. Và nhờ vậy mà đã đến được thuyết Tương đối". (Muốn hiểu thuyết tương đối phải mạnh dạn từ bỏ những quan điểm , hình tượng cũ về không gian và thời gian).
Ngay cả với con, ông cũng luôn hài hước. Khi cậu con trai 9 tuổi của ông hỏi ông: Vì sao cha lại nổi tiếng? - "Một con ruồi bò trên bề mặt quả địa cầu, nhưng nó không biết rằng nó đang bò trên đường cong. Còn cha trong khi đó có cái may mắn hơn con ruồi là, cha biết được điều đó. Bởi vậy mà mọi người nhắc đến cha!".
Điều bí ẩn của các phát hiện vĩ đại trong khoa học tự nhiên thường không nằm ở việc đưa ra những tư tưởng mới, mà nó giúp người ta nhận biết khiếm khuyết của những tư tưởng cũ cần phải thay thế.
Ngày 18/4/1955, Einstein lặng lẽ và thanh thản ra đi vĩnh viễn như Ông đang ngủ. Ông bình tĩnh đến lạ thường. Ông đã nói với những người thân vây quanh giường bệnh: “ Đừng bối rối thế! Ai cũng phải chết một lần!”.
Ông từng viết rằng: “Nỗi lo sợ về cái chết là nét phổ quát rất dễ thương của loài người. Đó là một trong những phương thức mà tạo hóa dùng để duy trì sự sống của muôn loài. Nhưng công bằng mà nói, nỗi sợ ấy thật là khó biện minh, bởi vì chẳng có rủi ro tai họa nào có thể xảy ra với một người đã chết!”.
Albert Einstein đã để lại dấu ấn cho mãi mãi mai sau những phát minh khoa học, những hoạt động xã hội nhiệt thành, một nhà hoạt động chính trị nhân văn cao độ. Và một nhân cách trong sáng tuyệt vời, mãi là tấm gương cho các thế hệ mai sau. Ông là đỉnh cao của khoa học và nhân văn.
Nguyễn Dược - Việt Nam net

Thứ Bảy, 24 tháng 9, 2011

Phát hiện hạt phân tử di chuyển nhanh hơn tốc độ ánh sáng


Einstein có thể đã sai?
TT - Ngày 22-9, các nhà khoa học thuộc Trung tâm Nghiên cứu nguyên tử châu Âu (CERN) đã gây chấn động làng vật lý thế giới khi công bố họ đã phát hiện hạt phân tử neutrino có khả năng di chuyển nhanh hơn vận tốc ánh sáng.
Phát hiện này, nếu đúng, sẽ làm đảo lộn toàn bộ vật lý học hiện đại.
Phải chăng nhà bác học thiên tài Albert Einstein đã sai lầm? - Ảnh: Wikipedia
Nguồn: Cern - Đồ họa: vĩ cường
Nhóm nghiên cứu đã bắn một dòng hạt neutrino từ một máy gia tốc trong lòng đất tại CERN, bên ngoài Geneva (Thụy Sĩ) tới Phòng thí nghiệm Gran Sasso ở Ý, cách đó 731km. Họ vô cùng kinh ngạc khi phát hiện tốc độ của các hạt neutrino lên tới 300.000,6 km/giây, nhanh hơn tốc độ ánh sáng khoảng 6km/giây.
 “Các hạt neutrino đến đích nhanh hơn 60 giây nano (1/1 tỉ giây) so với quãng thời gian 2,3 mili giây (1/1.000 giây) của ánh sáng” - nhà vật lý học Antonio Ereditato thuộc CERN khẳng định. Ông cho biết sai số của kết quả này khoảng 10 giây nano.
 “Kết quả này gây ngạc nhiên quá lớn - chuyên gia Ereditato nói - Chúng tôi chỉ muốn đo tốc độ hạt neutrino chứ chẳng mong tìm thấy điều gì đặc biệt”. Các nhà khoa học CERN đã dành ba năm nghiên cứu và thêm sáu tháng để “kiểm tra, thử nghiệm, kiểm tra lại mọi thứ” trước khi công bố thông tin.
 “Khi nhận được một kết quả điên rồ như vậy, chúng tôi phải đảm bảo là đã không có sai sót hay không tính toán đến mọi yếu tố. Chúng tôi đã dành nhiều tháng kiểm tra đi kiểm tra lại và không phát hiện bất cứ sai sót nào cả”.
Thách thức thuyết tương đối
Một sự chêch lệch cực nhỏ nhưng lại có ý nghĩa vô cùng to lớn. Thuyết tương đối của nhà vật lý học vĩ đại Albert Einstein là một trong những trụ cột quan trọng nhất của vật lý học hiện đại. Theo thuyết tương đối, trong vũ trụ không gì có thể di chuyển nhanh hơn tốc độ ánh sáng. Một thế kỷ quan sát và thực hiện cho thấy lý thuyết này rất chính xác. Đó là một trong những yếu tố quan trọng nhất của vật lý hiện đại nhằm giải thích sự tồn tại và vận hành của vũ trụ và vạn vật.
“Nếu thí nghiệm của CERN được chứng minh là đúng thì rõ ràng kết quả này là một cuộc cách mạng lớn lao và sẽ làm thay đổi toàn bộ nền tảng của vật lý học hiện đại - nhà vật lý học Pháp Pierre Binetruy nhận định - Sự chính xác của cả thuyết tương đối rộng và thuyết tương đối hẹp đều sẽ trở nên sai lầm”. Nhà vật lý học lý thuyết Alvaro de Rujula thuộc CERN cũng khẳng định: “Nếu thí nghiệm này chính xác thì rõ ràng chúng ta chẳng hiểu gì về vật lý và vũ trụ”.
Theo nhà vật lý học hạt cơ bản Stephen Parke thuộc Phòng thí nghiệm máy gia tốc quốc gia Femi của Mỹ (Femilab), nếu quả thật có hạt cơ bản di chuyển nhanh hơn tốc độ ánh sáng thì về lý thuyết, con người hoàn toàn có thể đi ngược thời gian. “Khi đó bạn có thể trở thành chính bà ngoại của mình. Đó quả là một vấn đề lớn” - Parke nói một cách hài hước.
Parke và nhà thiên văn học John Learned thuộc Đại học Hawaii cho rằng nếu kết quả nghiên cứu của CERN là sự thật, thì cũng có thể có một cách giải thích khác là hạt neutrino có thể đi “đường tắt” trong không gian thông qua những chiều không gian khác.
“Thuyết tương đối chỉ đúng trong không - thời gian bốn chiều (ba chiều không gian và một chiều thời gian), do đó nếu có một chiều thứ năm thì hạt cơ bản có thể đi qua và đi nhanh hơn tốc độ ánh sáng” - Learned đặt giả thuyết.
Cần sự kiểm chứng
Tuy nhiên, không ít chuyên gia vật lý học quốc tế đã tỏ ra nghi ngờ kết quả thí nghiệm của CERN. “Kết quả này nằm ngoài sự tưởng tượng, do đó tôi thấy cần thận trọng. Có thể đã có sai sót về phép đo” - giáo sư Weber tuyên bố. Giáo sư vật lý Dave Goldberg thuộc Đại học Drexel (Mỹ) cũng cho rằng cộng đồng khoa học thế giới sẽ không quá vội vã chấp nhận kết quả thí nghiệm này.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, tiến sĩ Phan Bảo Ngọc - trưởng bộ môn vật lý, Đại học Quốc tế (Đại học Quốc gia TP.HCM) - cũng cho rằng độ chênh lệch giữa vận tốc hạt neutrino đo được trong cuộc thí nghiệm và vận tốc ánh sáng nằm trong khoảng 6 sigma (1 sigma là sai số của phép đo), do đó chưa thể chắc chắn về độ chính xác của kết quả thí nghiệm.
 “Các chuyên gia CERN đã làm tất cả những gì có thể, nhưng trước khi ném Einstein vào lửa, chúng ta cần có một cuộc thí nghiệm độc lập khác để kiểm chứng kết quả này” - nhà vật lý học lý thuyết John Ellis thuộc CERN khẳng định.
Ngay cả các chuyên gia CERN thực hiện cuộc thí nghiệm cũng cho biết họ quyết định công bố kết quả là vì muốn các nhà khoa học quốc tế cùng kiểm chứng kết quả. “Hi vọng một cuộc thí nghiệm khác sẽ đưa lại kết quả tương tự - chuyên gia Ereditato khẳng định - Khi đó, tôi sẽ cảm thấy nhẹ nhõm”.
Theo nhà vật lý học hạt neutrino Chang Ke Jung - người phát ngôn của chương trình thí nghiệm vật lý hạt cơ bản đa quốc gia T2K, thí nghiệm của CERN sẽ sớm được tái lập tại phòng nghiên cứu của T2K. Các nhà khoa học Femilab cũng sẽ thực hiện các thí nghiệm tương tự trong vòng sáu tháng tới.

SƠN HÀ
(Theo Live Science, Christian Science Monitor, AFP)

Thứ Sáu, 16 tháng 9, 2011

Phong điện dùng nơi lượng gió yếu


Đây là mô hình một loại chong chóng phát điện nơi có năng lượng gió yếu, nó có thể tạo ra điện năng ở vận tốc gió chỉ ngang hay hơn so với người đi bộ (từ 0,5 đến 1,5 m/giây). Đó quả là điều kỳ lạ và lý thú, bảo đảm cho phong điện này có thể làm đại trà ở bất kỳ nơi nào cũng được.
Phong điện này dựa vào 3 yếu tố sau đây:
- Sử dụng loại chong chóng nhạy với gió nhẹ nhất đó là loại chong chóng có diện tích cánh chắn gió lớn gấp bội so với khoảng trống các khe cánh, cho phép gió thổi qua như các quả cầu hút nhiệt hay phong điện cánh kép cắt cánh trên khối trụ rỗng (đã đăng nhiều kỳ trên báo KHPT).
- Thứ hai là tạo lực cản thật nhẹ (và có thể cực kỳ nhẹ) đối với sự khởi động cho chong chóng dễ quay, đó là hệ giảm tốc nhiều lần như cách truyền lực bằng dây cơ roa và 2 puly có tỷ lệ chênh lệch kích cỡ rất cao như trong hình.
- Thứ ba là sử dụng hiệu ứng bật dây cung (đã trình bày trên báo KHPT) lúc đó ta có thể chỉnh độ dài của đòn bẩy và lực của lò xo để tạo sự thích hợp tối ưu đối với những luồng gió nhẹ nhất có thể.
Tóm lại, đây là giải pháp lý thú giúp phong điện có thể tạo ra điện ở bất kỳ vùng địa lý nào và ngoài ra nó còn có thể thu nhỏ tối đa, tạo ra những dòng điện nhỏ vài chục đến vài trăm mA để dùng bởi những “chong chóng cầm tay” cỡ nhỏ có thể mang đi cắm trại hay đi du lịch…

ĐẶNG HỒNG QUANG
Theo báo KHPT